Chuyện phiếm về du học – Phần 1

0
967

Note: Chuỗi bài này mình viết dưới góc độ cá nhân: Quan điểm cá nhân, suy nghĩ cá nhận, cảm nhận cá nhân. Người viết không đưa ra bất kỳ định nghĩ hay công thức tổng quát nào cho các sự việc, hiện tượng được nhắc đến trong bài. Điều đó đồng nghĩa là, các quan điểm trong bài này không có tính đúng sai vì nó mang tính cảm nhận cá nhân. Nhưng dĩ nhiên, bạn bè gần xa có thể lên tiếng tranh luận, hoặc đóng góp để người viết có thể học hỏi, nhận ra cái mới cái hay và nhìn được điểm thiếu sót của bản thân.

Trân trọng cảm ơn!

Lúc trước, mình không tính viết cái gì đó chia sẻ về quá trình apply học bổng vì mình không nghĩ mình là chuyên gia, phần vì thấy các bài viết chia sẻ kiểu này cũng không hiếm gì. Ngoài ra, mình có quan điểm là không phải cứ ai tìm được một cái học bổng thì nghĩa là họ rất giỏi trong việc “săn” học bổng, vì đôi khi họ chỉ may mắn hơn chứ chưa chắc đã giỏi và có nhiều thông tin như bạn. Mình cũng rất ít khi tìm đọc cái bài kiểu “Chia sẻ bí kíp xin học bổng” bởi mình nghĩ là mỗi người một background, tính cách khác nhau, định hướng khác nhau, động cơ khác nhau. Nên đối với mình thì thật khó có thể tổng hợp thành “bí kíp võ công” để lan truyền thiên hạ.

Nhưng mặc cho sự thật là các bài viết chia sẻ kinh nghiệm vẫn đầy rẫy trên mạng, thì dân tình vẫn cứ cảm thấy thiếu thông tin như thường. Và các câu hỏi muôn thuở vẫn tiếp tục được lặp đi lặp lại bất kể thời thế: Làm sao để tìm học bổng? Apply học bổng thế nào? CV (Lý lịch) thế nào? SOP (Bài luận cá nhân) thế nào? Reference letter (thư giới thiệu) thế nào?

Mình nghĩ bản thân mình là một người trầy trật trong chuyện xin học bổng (nên nói chung đã biết thế nào là đau thương) trong suốt 2 năm và mình đã chuẩn bị và apply master ở 3 nơi khác nhau: Anh, Pháp, Mỹ. Nên có thể, mình sẽ đem lại một cái nhìn so sánh và đối chiếu cho các bạn quan tâm.
Ở đây để cho đơn giản mình sẽ kể lại quá trình của mình theo tuần tự các bước cho dễ theo dõi.
Series bài của mình sẽ chia làm 3 phần:

Phần 1: Học gì?
Các bước xác định ngành học mình muốn theo đuổi (Mình sẽ đi sâu về các ngành Kinh Tế)

Phần 2: Ở đâu?
Phân tích cơ hội học tập ở 3 nơi: Anh, Pháp, Mỹ

Phần 3: Apply học bổng
Về các bước để tìm kiếm và apply học bổng

PHẦN 1: HỌC GÌ?

Bước 1: Biết mình muốn gì?

Câu hỏi không còn là mới, nhưng chưa bao giờ là cũ. Nghe rất chi là giống “đắc nhân tâm”, nhưng quả rằng nếu không trả lời được câu này thì y như bản thân mình đang đi lang thang không định hướng. Khi vừa tốt nghiệp đại học, mình cũng rơi vào cơn khủng hoảng trầm trọng này, vì ở Đại Học mình chưa được trang bị đủ kiến thức có ích và mang tính định hướng để đi tiếp “hậu đại học”. Nhiều khi mình thấy điều bất công nhất là bắt một đứa trẻ 18 tuổi phải chọn “con đường sự nghiệp” khi nó chưa đủ chín chắn để suy nghĩ và đủ thông tin để quyết định đúng. Mình đã chọn đại học theo mong muốn của cha mẹ (An ủi là chắc mình không phải trường hợp duy nhất).

Mặt khác, mình lại là người theo trường phái “thích đủ thứ” và không xuất sắc đặc biệt cái gì những cái gì cũng làm được một chút. Hậu đại học, mình đã nghĩ tiếp theo mình muốn theo đuổi cái gì: Viết lách, nghệ thuật, xã hội học, tâm lý học, triết học blah blah blah. Có hai thứ đã tác động khiến mình quyết định chọn một hướng đi và trung thành với nó. Bạn thân nhất của mình đã bảo rằng: “Nếu cái nào cậu cũng thích và cũng làm được thì chọn cái này hay cái kia đâu có quan trọng. Thỉnh thoảng, cậu phải những cái cậu không thích lắm để sau đó được làm những cái cậu thích”. Điều thứ hai tác động đến mình là một trích đoạn trong Alice lạc vào xứ sở thần tiên, khi Alice chạy đến ngã ba và hỏi con mèo: “Tôi phải chọn hướng nào?”. Con mèo hỏi: “Cô muốn tới đâu?”. “Tôi không biết”. “Nếu cô không biết mình phải đến đâu thì đi hướng nào chẳng như nhau”.

Khi đã thật sự ý thức mình cần chọn một con đường để dồn nhiều tâm sức hơn là làm đủ thứ, mình đã phân tích bản thân mình và sự lựa chọn của mình trong “3 thì”: Quá khứ – Hiện tại – Tương lai.

Mình cần một sự lựa chọn mà mình có thể kết nối nó với các trải nghiệm của mình trong quá khứ, mình định hướng được mình có thể làm gì để hướng về nó trong hiện tại và hình dung ra được mình với sự lựa chọn đó sẽ thế nào trong tương lai.

Cuối cùng, mình chọn học về Kinh Tế.

Bước 2: Tìm hiểu về điều bạn muốn

Khi đã xác định sẽ chọn học về Kinh Tế, dĩ nhiên mình sẽ tự hỏi mình sẽ học cụ thể các môn gì, học xong thì làm gì, với khả năng của mình thì có theo nổi hay không. Mình nhớ điều đầu tiên mình làm là lên website của một trường Đại Học tìm danh sách các giáo sư, hướng nghiên cứu của họ và các “paper” (bài nghiên cứu) của họ để xem. Đến lúc đó, mình mới nhận ra Kinh Tế có nhiều hướng hơn mình nghĩ: Kinh tế tài chính, Lịch sử Kinh Tế, Kinh Tế Chính Trị, Kinh Tế Hành Vi… cho đến các ngành nhỏ khá lạ như: Labor Economic, Health Economic, Water Economic. Cũng như có rất nhiều hướng ứng dụng khác nhau, người ta dùng các kiến thức và mô hình Kinh Tế để phân tích kẹt xe, hiệu quả giáo dục, bình đẳng giới… Mình hiểu nôm na Kinh Tế không phải phạm vi nghiên cứu rằng cứ học Kinh tế là: Tiền, Kinh Doanh, Trao đổi buôn bán, Làm Giàu… mà nó là một hệ triết lý và công cụ để phân tích nhiều khía cạnh của cuộc sống. Mình đọc được các “paper” rất hay về dùng mô hình kinh tế để dự đoán năng suất nông nghiệp (lúc đó nghĩ áp dụng được cho Miền Tây ĐB Sông Cửu Long thì thật hay), dùng mô hình kinh tế để tính toán về đô thị hóa, kẹt xe và phúc lợi xã hội (nghĩ áp dụng được cho Sài Gòn thì thật hay).

Cụ thể hơn, mình định hướng muốn học về Kinh Tế chính sách, Kinh Tế công hoặc Kinh Tế phát triển, lấy các công cụ Kinh Tế để phân tích các vấn đề xã hội. Hay nói theo kiểu nhiều người thường nói với mình là chọn hướng Kinh Tế lo chuyện “bao đồng” và khó làm giàu nhất.

Càng tìm hiểu thì mình càng thấy thích ngành học này. Mình cảm thấy thích đi theo hướng nghiên cứu và giảng dạy. Dù bạn bè thì kêu như thế không được thời thượng và xác suất trở nên giàu có cũng khá thấp. Thực tế, mình đã cãi nhau với kha khá người chỉ để bảo vệ quan điểm là: việc nghiên cứu kinh tế – xã hội là vô cùng cần thiết cho sự phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, số lượng những người cho rằng việc nghiên cứu có vẻ vô bổ, giáo điều và phi thực tế thì nhiều vô kể. Tóm lại, có lẽ mình đã nghe và hiểu kha khá về điều mình sẽ theo đuổi từ nhiều hướng quan điểm. Sau tất cả, (Rất may) vẫn kiên định với lựa chọn của mình, vì mình nghĩ xã hội thì có sự phân công lao động, có những người giàu thì cũng có người không giàu lắm, có người làm việc này thì cũng có người làm việc kia. Mình không muốn chạy theo xu hướng, sống một giấc mơ thời thượng. Mình nghĩ từ lúc đó mình sẽ đi theo cái mà mình cho là ý nghĩa với mình nhất.

Bước 3: Chuẩn bị kiến thức – Bổ sung cái mình thiếu

Trong quá trình đọc các “paper”, mình rất hào hứng với ý tưởng của các nghiên cứu. Muôn hình vạn trạng, sự hợp lý và hữu ích. Nhưng đọc chỉ hiểu mỗi phần giới thiệu và ý nghĩa, đến khúc phân tích, thì mình bó tay vì toàn bộ được phân tích bằng toán học.

Lúc đó, mình mới nhận ra sự thật về Kinh Tế Học. Ở nước ngoài, Kinh Tế Học được xem là một môn gần như toán học. Một số trường ở Mỹ còn đòi hỏi sinh viên muốn học tiếp sau đại học phải có một số tín chỉ nhất định về Giải Tích, Xác Suất, Real Analysis,… Thậm chí họ sẽ ưu tiên nhận 1 SV về ngành toán hơn là 1 SV về Kinh Tế. Đa số các bạn học ĐH ngành Kinh Tế đều phải chọn thêm ngành phụ (minor) là Toán. Trong khi ở Việt Nam, theo như cách bản thân mình hiểu suốt 4 năm qua, thì Kinh Tế gần gần như một môn “tập làm văn”, lý luận về ngôn ngữ nhiều. Hai cách tiếp cận khác nhau như vậy nên việc ít SV Kinh Tế nào ở Việt Nam có thể theo học hẳn một chương trình Tiến Sĩ ở nước ngoài (như bên các ngành Kỹ Thuật và Khoa Học, hay SV học ở Mỹ sau khi hoàn tất ĐH có thể lên thẳng chương trình PhD 5 năm). Ngay cả khi ra nước ngoài học master thì cũng vấp phải 1 rào cản rất lớn do sự thiếu hụt kiến thức toán.

Ngoài ra, mình tin vẫn còn 1 sự ngộ nhận rất lớn xung quanh các ngành Kinh Tế ở Việt Nam. Một là, nhiều người cho rằng Kinh Tế (Economics) và Kinh Doanh (Business) là như nhau. Thật ra là khác nhau 1 trời 1 vực: Kinh Tế đại khái học Vi Mô, Vĩ Mô, Kinh Tế Lượng, Xác Suất…, Kinh Doanh đại khái học Kế Toán, Marketing, Nhân sự… Hai là, nhiều người nghĩ Kinh Tế là đào tạo nhân lực cho tập đoàn Đa Quốc Giá, làm giám đốc, làm doanh nhân… Ba là, như đã nói ở trên, Kinh Tế là ngành chỉ có lý luận về ngôn ngữ.

Tóm lại, thông qua việc đọc các “paper”, mình nhận thấy: sự thiếu hụt, sự cần thiết và sức mạnh của Toán Học trong nhiều nghiên cứu có tính ứng dụng cao về Kinh Tế. Ban đầu, mình đã tự trách bản thân không lo học hành các môn nền tảng như: Micro, Macro, Xác Suất, Kinh Tế Lượng, Toán Cao Cấp ở ĐH. Sau đó mới thấy, có quay lại thì lịch sử cũng không khá hơn. Chi bằng nghĩ cách bù đắp kiếm thức, sau khi tìm kiếm trên mạng thì mình tìm ra khóa Pre-Master/PhD ở VCREME, bổ sung kiến thức ở đúng các môn mình cần thế là mình lên đường đăng ký học ngay.

Có 3 vấn đề sẽ khiến bạn khó được nhận vào 1 khóa về Kinh Tế:

1. Trong bản điểm của bạn không đủ số chỉ về các môn Kinh Tế lý thuyết nền tảng.

Như trường hợp của mình, ở ĐH, mình theo International Business. Hoàn toàn không đủ số chỉ về các môn Kinh tế nền tảng và các môn định lượng để theo học tiếp về Kinh Tế. Nói theo, một cách nào đó, việc đi học Kinh Tế là mình cũng đang “nhảy ngành”.

2. GPA[i] của bạn quá là í ẹ

Khác với các ngành Kỹ Thuật và Khoa Học cơ bản, Kinh Tế nhìn chung là ngành khá nhiều người theo nên cũng cạnh tranh hơn hẳn. Nhất là học Kinh Tế ở Mỹ thì gọi là siêu siêu cạnh tranh. Ở Mỹ, theo số liệu thống kê công bố công khai trên trang tuyển sinh của các trường, thì đa số các khóa PhD về Kinh Tế ở Mỹ đều đòi hỏi GPA từ 3.6 trở lên và GRE[ii] (Quan: 160+ và Verbal: 160+, Analytical Writing: 4.5+) vì là ngành vừa có hơi hướng định lượng, vừa có hơi hướng suy luận ngôn ngữ nên trong khi các ngành KH-KT khác người ta chỉ xem điểm Quan, thì riêng các ngành Kinh Tế, các chương trình tốt sẽ đòi hỏi cả điểm Verbal và AW cao (theo kiểu đòi “Văn võ song toàn”). Mình sẽ có một bài cụ thể hơn về các chương trình đào tạo Kinh Tế ở Mỹ, cũng như việc chuẩn bị GRE, TOELF/IELTS.

Mức GPA 3.6 là mức tối thiểu, nghĩa là để đảm bảo được nhận thì phải cao hơn thế. 60-70% hồ sơ được từ 3.7-3.8, các siêu sao 4.0 không hề ít (Các bạn có thể tham khảo thêm trên Gradcafe). Nhưng ở các nước khác thì mức GPA yêu cầu sẽ thấp hơn. Nhiều người cũng chọn cách học 1 khóa master trước và ráng kiếm GPA thật cao ở master.

Có nhiều quan điểm cho rằng GPA không quan trọng. Theo mình là tùy ngành, nếu bạn muốn đi học các ngành mang tính ứng dụng như Communication, Marketing hay Business, thì đúng là GPA không quá quan trọng. Nhưng nếu xác định thì theo các ngành hơi học thuật và nghiên cứu thì GPA rất rất rất quan trọng.

3. Kinh nghiệm nghiên cứu và học thuật

Cả 2 điều trên đều có thể cứu vãn nếu bạn có các kinh nghiệm nghiên cứu mạnh, bao gồm các giải thưởng nghiên cứu thời Sinh Viên, làm trợ lý nghiên cứu trong 1 dự án nào đó của các thầy cô, hay tuyệt với nhất là có bài báo nghiên cứu.
Sinh Viên Kinh Tế Việt Nam, nhất là các bạn chưa có định hướng từ đầu như mình thì điều này gọi là chưa bao giờ nhận ra, đến lúc phát hiện thì đã quá trễ tràng.

Khóa học ở VCREME gần như giúp mình khắc phục phần nào tất cả các điểm trên. Ở VCREME, mình được trang bị lại các kiến thức Toán nền tảng để bớt đuối khi đi học Kinh Tế ở nước ngoài. Được mở rộng mạng lưới với các anh chị giảng viên, các thầy cô giáo sư, điều đó rất quan trọng để mình học hỏi và cảm nhận môi trường học thuật từ xung quanh (cho quen). Thêm các tín chỉ nếu thiếu. Và nếu học tốt kết quả cao thì đó sẽ là sự gỡ gạc cho GPA.

Cuối cùng, việc theo đuổi 1 khóa VCREME và chỉ cần ngồi thi cho hết 4 môn chưa cần biết có đậu hay không cũng là 1 sự quyết tâm đáng ghi nhận. Bằng chứng, là việc ai đó phải thi đi thi lại vài lần ở VCREME là chuyện thường ngày như cơm bữa, nhưng chỉ những ai đủ quyết tâm sẽ ở lại và đó là 1 bằng chứng cho sự kiên quyết của họ theo đuổi con đường ngày (Điều đó sẽ được bộ phẩn tuyển sinh đánh giá cao nếu bạn biết đề cập tới).

Tóm lại, mình sẽ không nói nhiều về VCREME (Để bạn tự tìm hiểu). Hơn nữa, mỗi người mỗi khác, trải nghiệm của mình ở VCREME rất tốt không có nghĩa bạn cũng sẽ yêu thích VCREME như mình. Quan trọng vẫn là mình sống thế nào với sự lựa chọn của mình. Nhưng với tất cả những ai đã học qua được VCREME, thì mình đều ngưỡng mộ họ, không phải vì tài năng hay trí tuệ gì gì, đơn giản họ thật sự nỗ lực và có bản lĩnh.
Mình thấy hay nhất là điều này!


 

[i] GPA (Grade Point Average): Điểm trung bình

[ii] GRE (Graduate Record Examination): Kỳ thi đầu vào chuẩn hóa bắt buộc cho các chương trình Master và PhD ở Mỹ và 1 số nước khác